Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Thực trạng thị trường lao động và giải pháp trong kết nối thông tin cung cầu lao động trên địa bàn huyện Núi Thành

Ngày đăng: 15:47 | 22/06 Lượt xem: 112

Núi Thành là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Nam, có diện tích tự nhiên 55.853 km2. Toàn huyện, có 16 xã và 01 thị trấn, trong đó có 05 xã miền núi. Tổng dân số 42.064 hộ, 145.424 khẩu, với 1.622 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 3,82%) và 1.568 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 3,69%). Thị trường lao động đã có những chuyển biến

Xác định công tác lao động việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và phát triển KTXH, ổn định QPAN. Vì vậy, trong những năm qua huyện Núi Thành đã tích cực triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để ổn định, phát triển thị trường lao động việc làm trên địa bàn. Nhờ vậy, đến nay thị trường cung cầu lao động, chất lượng, cơ cấu lao động đã nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong tăng năng suất sản xuất, phát triển KTXH tại địa phương. Đến nay lực lượng lao động toàn huyện có 82.117 người (chiếm 51,5% tổng dân số của huyện); tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 75,46%; số lao động có việc làm là 81.515 người (chiếm 92,26% tổng số lực lượng lao động), trong đó lực lượng lao động có việc làm qua đào tạo trong độ tuổi là 71.608 người (chiếm 87,85% tổng số lực lượng lao động có việc làm); lao động trẻ, nhóm tuổi từ 15 tuổi đến 34 tuổi là 29.329 người (chiếm 35,98%). Tốc độ phát triển lực lượng lao động có xu hướng tăng dần hằng năm khoảng 1.000 người. Tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành kinh tế có chuyển dịch khá quan trọng, đến nay lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm 57,52% cơ cấu lao động; lao động làm việc trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp chỉ còn chiếm 42,48%. Chất lượng lao động ngày càng được nâng cao cùng với việc có điều kiện tiếp thu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và môi trường lao động công nghiệp, đã góp phần rất lớn trong nâng cao năng suất lao động.
Song song với chất lượng cung ứng lao động được cải thiện thì thị trường cầu lao động đã ngày càng đa dạng, đã tạo cơ hội cho người lao động có việc làm ổn định, tăng thu nhập, phát triển kinh tế. Trong năm 2017, toàn huyện có trên 224 doanh nghiệp hoạt động tại 04 khu công nghiệp như Khu công nghiệp Tam Anh, Khu công nghiệp và hậu cần Cảng Tam Hiệp, Khu công nghiệp cơ khí Ôtô Chu Lai Trường Hải, Khu công nghiệp Bắc Chu Lai và 2 cụm công nghiệp Nam Chu Lai và Cụm công nghiệp Tam Mỹ Tây đã thu hút, giải quyết việc làm cho hơn 18.000 lao động, trong đó có hơn 1500 người được giải quyết việc làm mới. Tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng tăng trung bình từ 4-5%/năm.
Cùng với đó, công tác thông tin, hỗ trợ phát triển thị trường lao động cũng được các cấp, các ngành của huyện Núi Thành chú trọng. Hằng năm, UBND Huyện, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội huyện đã chủ động phối hợp tích cực với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, các Phòng chức năng và doanh nghiệp trên địa bàn tổ chức cấp nhật thông tin biến động lao động, điều tra cầu lao động của các doanh nghiệp, xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động nhằm phục vụ tốt công tác dự báo và thông tin thị trường lao động, tiến hành kiểm tra, giám sát công tác điều tra, cập nhật, lưu trữ và quản lý dữ liệu cơ sở dữ liệu thị trường lao động theo chỉ đạo của Tỉnh, Trung ương. Hoạt động đào tạo nghề, tư vấn giới thiệu việc làm, tham gia sàn giao dịch việc làm do Sở tổ chức, kết nối cung cầu lao động cũng được tập trung thực hiện đạt hiệu quả. Nhờ vậy, đã tạo điều kiện thuận tiện cho người lao động có cơ hội bình đẳng trong tìm kiếm việc làm, người sử dụng lao động có điều kiện thuận tiện trong việc trao đổi thông tin, tuyển dụng lao động phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng cung cầu lao động trên địa bàn vẫn còn những hạn chế nhất định, cụ thể như:
Về cung lao động: Chất lượng lao động còn hạn chế, trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp của lực lượng lao động chiếm tới 77,28%; lực lượng lao động chưa qua đào tạo còn 12,15%; số công nhân kỹ thuật không bằng cấp còn 43.355 người. Thể lực, sức bền, sự dẻo dai chỉ ở mức trung bình. Nhìn tổng thể, đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp nói riêng và nhu cầu của thị trường lao động nói chung, nhất là về các kỹ năng mềm và tác phong công nghiệp. Có những nguyên nhân đã được nêu ra, trong đó có nguyên nhân trong một thời gian dài các trường nghề chỉ chú trọng đến đào tạo lý thuyết của nghề, phần thực hành chưa gắn với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo. Việc kết nối giữa đào tạo và việc làm vẫn còn những khoảng cách đáng kể, dẫn đến chênh lệch giữa cung và cầu lao động, trong đó đặc biệt là nhu cầu lao động trong các ngành có chuyên môn, trình độ cao. 
Về cầu lao động: Ngoài những nguyên nhân về chính sách đào tạo khiến cung - cầu lao động chưa gặp nhau, công tác quản lý lao động, chính sách bảo hiểm thất nghiệp, giới thiệu việc làm thời gian qua ở tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Núi Thành nói riêng vẫn còn bộc lộ những hạn chế. Cụ thể, hệ thống tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm đóng vai trò quan trọng đối với sự hình thành, phát triển thị trường lao động, là cầu nối giữa người sử dụng lao động và người lao động, nhưng các cơ quan quản lý nhà nước, các Trung tâm giới thiệu việc làm còn hạn chế về khả năng tư vấn, giới thiệu việc làm, thu thập thông tin về cung - cầu lao động. Hoạt động thu thập, phân tích và dự báo thị trường lao động còn yếu kém, gây ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội nói chung, chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao và giải quyết việc làm nói riêng. 
Về cân đối cung - cầu lao động: Công tác dự báo thị trường lao động yếu kém, đào tạo nghề cho lao động chưa đáp ứng với nhu cầu của doanh nghiệp. Tình trạng dư thừa lao động không có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật nên nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn không chỉ trong việc tuyển dụng lao động qua đào tạo mà còn cả trong tuyển dụng lao động phổ thông, chủ yếu xảy ra đối với các doanh nghiệp trong sản xuất công nghiệp. Nhiều doanh nghiệp tuyển lao động phổ thông vào phải đào tạo lại 2-3 tháng cho người lao động mới sử dụng được dẫn đến năng suất lao động thấp hoặc người lao động có tay nghề không phù hợp với công việc của doanh nghiệp muốn tuyển nên dẫn đến tốn kém thời gian, công sức cho cả người lao động và doanh nghiệp.
Tâm lý người lao động chỉ muốn hưởng chế độ cho mục đích cá nhân chứ chưa quan tâm đến các chế độ khác như tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề để tiếp tục quay lại thị trường lao động. Một số lao động chưa nhận thức rõ việc khai báo tình trạng việc làm, trong khi phần lớn người sử dụng lao động vẫn chưa thực hiện thông báo định kỳ về tình hình biến động lao động. Mặt khác, công tác quản lý lao động ở nước ta còn nhiều bất cập, chưa có đủ công cụ để quản lý lao động nên rất khó kiểm soát tình trạng việc làm của người lao động dẫn đến số liệu thống kê chưa kết nối. 
Ngoài ra, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong dạy nghề, học nghề và giải quyết việc làm cho người về lao động chưa được sâu rộng. Định hướng việc làm cho người lao động còn thấp, chưa hiệu quả, đào tạo chưa gắn với nhu cầu, người lao động và người thất nghiệp thiếu thông tin về việc làm, người sử dụng lao động thiếu thông tin về cung cấp trên thị trường lao động, ảnh hưởng đến đầu tư, phát triển sản xuất. Cơ quan quản lý nhà nước thiếu thông tin để phân tích, đánh giá thị trường lao động và xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp để đáp ứng với dự chuyển dịch ngày càng cao về lao động.
Cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp 
Để công tác kết nối thông tin cung cầu lao động nói chung và công tác tuyển dụng, cung ứng lao động nói riêng trong thời gian đến khắc phục được những tồn tại, hạn chế, xây dựng hệ thống thông tin ngày càng đầy đủ hơn để kết nối cung - cầu lao động và dự báo thông tin thị trường nhằm kết nối giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả đòi hỏi cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó trọng tâm gồm:
Một là, Mở rộng cầu lao động, giải quyết dần mất cân đối cung - cầu về lao động bằng các giải pháp phát triển kinh tế, khuyến khích đầu tư thông qua việc quy hoạch phát triển kinh tế, có chính sách khuyến khích về các điều kiện cho doanh nghiệp có kỹ thuật, công nghệ cao và các ngành kinh tế mũi nhọn, các doanh nghiệp giải quyết nhiều việc làm cho người địa phương; đồng thời quan tâm đúng mức đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, phát triển các ngành nghề truyền thống, nghề phụ ... để sử dụng hợp lý lao động tại chỗ, lao động nông nhàn, lao động phổ thông; thúc đẩy quá trình đô thị hoá, tích tụ ruộng đất gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn, giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong ngành kinh tế và lao động nông nghiệp. Thực hiện chính sách tiền lương gắn với năng suất lao động, tiền công theo định hướng thị trường; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, đối xử công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp; đồng thời cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ tiền lương cho đối tượng yếu thế với sự tham gia tích cực của doanh nghiệp, nhất là khi chỉ số giá sinh hoạt tăng cao.
Hai là: Phát triển thông tin thị trường lao động hoàn thiện hơn, trong đó chú trọng thu thập hệ thống dữ liệu cung – cầu lao động tương đối đầy đủ và có hệ thống; có những giải pháp thu thập thông tin cung lao động từ các cơ sở nhằm cung cấp dữ liệu đầy đủ về các thông số về cung lao động, địa chỉ từng lao động đang lao động, có nhu cầu tham gia lao động và nguồn cung cấp sức lao động mới; thu thập thông tin cầu lao động từ các doanh nghiệp và các tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động. Đồng thời, trên cơ sở dữ liệu cần xử lý một cách khoa học, hiệu quả và truyền tải, cung cấp, báo cáo thông tin thị trường lao động làm cơ sở để thực hiện dự báo. Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia hoạt động thông tin thị trường lao động ở địa phương, cơ sở.
Ba là, Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật lao động, khuyến khích các địa phương, doanh nghiệp có chính sách thu hút, sử dụng lao động phù hợp để người lao động yên tâm gắn bó làm việc như chính sách về nhà ở cho công nhân, nhà trẻ, các chính sách khác thu hút lao động ngoài huyện... Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn với đào tạo nghề với giải quyết việc làm; khuyến khích các doanh nghiệp chiêu sinh, đào tạo nghề và sử dụng lao động, cung ứng lao động, trong đó ưu tiên đào tạo cho lực lượng lao động ở các lĩnh vực có cầu lao động cao và dự kiến sẽ phát triển theo định hướng của nền kinh tế. 
Bốn là: Nâng cao hiệu quả kết nối trên thị trường lao động thông qua việc đẩy mạnh phối hợp, kết nối thông tin giữa cung- cầu của thị trường lao động, kịp thời nắm bắt nhu cầu của thị trường; đa dạng hóa các hình thức tạo việc làm kết hợp đào tạo nghề. Củng cố, nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp của các tổ chức hoạt động dịch vụ việc làm theo quy định của pháp luật. Thông qua hệ thống dịch vụ việc làm tư vấn nghề nghiệp cho lao động xác định mục tiêu nâng cao chất lượng sức lao động, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường sức lao động để có chất lượng và hiệu quả, tăng thu nhập và tái sản xuất sức lao động. Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, dự báo xu hướng việc làm, nhu cầu của người sử dụng lao động, chi phí đào tạo, tỷ lệ hoàn trả của đào tạo,… Đồng thời cung cấp đầy đủ các thông tin về dự báo kinh tế, triển vọng đầu tư, các dự án phát triển, trên cơ sở đó các doanh nghiệp sẽ dự kiến nhu cầu nguồn nhân lực và chủ động xây dựng các kế hoạch nhân lực của mình. Giải quyết tốt bảo hiểm thất nghiệp, chú trọng tiêu chí đào tạo lại và đưa lao động trở lại thị trường lao động nhanh và kết nối những người được đào tạo xong gia nhập thị trường lao động./.

Tác giả: Nguyễn Đức Thắm

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:








Thông báo






Liên kết website

BẢN QUYỀN ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH
Địa chỉ: Đường Chu Văn An - Thị trấn Núi Thành - Núi Thành - Quảng Nam
Điện thoại: 0235… Fax: 02353.570.560
Email: nuithanh@quangnam.gov.vn
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)